USD/JPY là tỷ giá hối đoái giữa đô la Mỹ và yên Nhật, cho biết một đô la Mỹ mua được bao nhiêu yên. Đây là cặp tiền được giao dịch nhiều thứ hai trên thế giới, chiếm khoảng 14.3% trong tổng giá trị khoảng 9.6 nghìn tỷ USD được giao dịch trên thị trường ngoại hối toàn cầu mỗi ngày (Khảo sát ba năm một lần của BIS, 2025), nhờ đó có thanh khoản sâu và chênh lệch giá luôn hẹp. Một số nhà giao dịch gọi nó là gopher.
Đô la Mỹ là đồng tiền cơ sở và yên là đồng tiền định giá, nên báo giá 150.00 có nghĩa là một đô la có giá trị 150 yên. Giá tăng nghĩa là đô la đang mạnh lên so với yên, còn giá giảm thì ngược lại. Bạn giao dịch USD/JPY dưới dạng CFD ngoại hối, tức là mở vị thế theo giá thay vì sở hữu trực tiếp yên: mở vị thế mua nếu bạn kỳ vọng đô la tăng, hoặc bán nếu bạn kỳ vọng nó giảm. Vì yên được báo giá đến hai chữ số thập phân, pip ở đây là chữ số thập phân thứ hai, và kết quả của bạn là số pip tăng hoặc giảm nhân với quy mô vị thế.
Động lực chi phối là chênh lệch lãi suất giữa Cục Dự trữ Liên bang Mỹ và Ngân hàng Trung ương Nhật Bản, vốn từ lâu đã giữ lãi suất thấp hơn nhiều so với Fed; chênh lệch rộng hơn sẽ hút vốn về phía đô la và đẩy cặp tiền tăng. Yên cũng là một tài sản trú ẩn an toàn điển hình và là đồng tiền tài trợ ưa thích cho các giao dịch carry trade, nên nó thường mạnh lên khi tâm lý rủi ro toàn cầu xấu đi và dòng tiền tháo gỡ các vị thế đó, kéo USD/JPY đi xuống.
Giả sử USD/JPY đang giao dịch ở mức 150.00 và bạn kỳ vọng đô la sẽ mạnh lên, nên bạn mua một lô tiêu chuẩn (100.000 đô la). Mỗi pip có giá trị 1,000 yên. Mức tăng 50 pip lên 150.50 mang lại:
50 √ó ¬•1,000 = ¬•50,000 (khoảng $333)
Mức giảm 50 pip xuống 149.50 sẽ khiến bạn lỗ ¬•50,000. Hợp đồng có giá trị $100,000, và với đòn bẩy 30:1, bạn cần ký quỹ khoảng $3,333, điều này khuếch đại cả lãi lẫn lỗ.