Mùa báo cáo lợi nhuận (Earnings season) definition

Mùa báo cáo lợi nhuận là giai đoạn vài tuần trong mỗi quý khi phần lớn các công ty niêm yết công bố kết quả tài chính mới nhất của mình. Nó gom một làn sóng cập nhật từ doanh nghiệp vào vài tuần bận rộn, bốn lần mỗi năm.

Nó bắt đầu vài tuần sau khi một quý dương lịch kết thúc, vì vậy các mùa chính thường rơi vào khoảng tháng 1, tháng 4, tháng 7 và tháng 10, với các ngân hàng lớn thường báo cáo trước. Trong mùa này, mỗi công ty công bố một báo cáo lợi nhuận: bản báo cáo về doanh thu, lợi nhuận ròng, lợi nhuận trên mỗi cổ phiếu và thường là cả định hướng tương lai về những gì ban lãnh đạo kỳ vọng tiếp theo. Giá cổ phiếu có thể biến động mạnh khi kết quả vượt hoặc không đạt dự báo của các nhà phân tích.

Mùa báo cáo lợi nhuận là khung thời gian trên lịch, không phải một tài liệu đơn lẻ. Báo cáo lợi nhuận là bản công bố kết quả riêng của một công ty, còn mùa báo cáo lợi nhuận là giai đoạn rộng hơn khi hàng trăm báo cáo như vậy được công bố cùng lúc. Vì có quá nhiều công ty báo cáo cùng thời điểm, mùa này có thể thúc đẩy biến động trên toàn thị trường chứ không chỉ ở từng cổ phiếu riêng lẻ.

Mùa báo cáo lợi nhuận (Earnings season) Example

Bạn nắm giữ một cổ phiếu trong mùa báo cáo lợi nhuận, và các nhà phân tích kỳ vọng công ty sẽ báo cáo lợi nhuận trên mỗi cổ phiếu là 1,20 USD. Thay vào đó, công ty báo cáo:

1,35 USD lợi nhuận trên mỗi cổ phiếu

Đó là mức vượt 0,15 USD so với dự báo. Một mức vượt như vậy có thể đẩy giá cổ phiếu tăng lên, trong khi một mức hụt tương tự, chẳng hạn 1,05 USD, thường khiến giá giảm xuống, dù công ty vẫn có lãi.