Trái phiếu là một công cụ nợ cho phép chính phủ, chính quyền địa phương hoặc doanh nghiệp vay tiền từ nhà đầu tư. Người mua trái phiếu cho tổ chức phát hành vay tiền để đổi lấy các khoản thanh toán lãi và việc hoàn trả số tiền gốc ban đầu.
Trái phiếu thường trả lãi thông qua các khoản coupon cố định và hoàn trả mệnh giá vào ngày đáo hạn, tức thời điểm tổ chức phát hành phải hoàn trả tiền gốc. Trước khi đáo hạn, giá trái phiếu vẫn có thể tăng hoặc giảm, vì lãi suất, kỳ vọng lạm phát, chất lượng tín dụng của tổ chức phát hành và nhu cầu thị trường đều ảnh hưởng đến mức giá mà nhà đầu tư sẵn sàng trả cho nó.
Trái phiếu khác với cổ phiếu: người nắm giữ trái phiếu là bên cho vay, được ưu tiên hoàn trả trước cổ đông và nhận mức lợi nhuận cố định, trong khi cổ đông là người đồng sở hữu mà lợi nhuận phụ thuộc vào lợi nhuận doanh nghiệp và giá cổ phiếu. Nhà đầu tư nắm giữ trái phiếu để tạo thu nhập, bảo toàn vốn và cân bằng rủi ro cao hơn của cổ phiếu.
Bạn mua một trái phiếu doanh nghiệp kỳ hạn 10 năm với mệnh giá 10,000 USD và lãi suất coupon hằng năm là 5%.
Mỗi năm bạn nhận được khoản lãi là:
10,000 USD √ó 5% = 500 USD
Khi đáo hạn, tổ chức phát hành hoàn trả mệnh giá 10,000 USD, miễn là không vỡ nợ.